Tam quốc diễn nghĩa: Sự thật cuộc hội đàm giữa Quan Vũ và Lỗ Túc khiến hai bên thu quân

Trong Tam quốc diễn nghĩa, La Quán Trung mô tả Quan Vũ "một đao tới hội" với Lỗ Túc và không có việc bị đuối lý với Lỗ Túc. Nhưng sự thật đằng sau đó lại khiến mọi người ngã ngửa.

Tam quốc diễn nghĩa kể rằng, trong trận Xích Bích, Gia Cát Lượng lợi dụng lúc Ngô Ngụy đang giao tranh kịch liệt, nhanh chóng cử người đi đánh chiếm các châu quận của Kinh Châu. Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Tử Long… lần lượt thu về Nam Quận, Tương Dương, Võ Lăng, Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng.
Kinh Châu là vùng đất anh hùng thiên hạ đều muốn chiếm cứ.

Kinh Châu là ngã ba đường của thiên hạ, là vùng đất có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng, anh hùng thiên hạ đều muốn chiếm cứ. Sau trận đại chiến hao binh tổn tướng, Tào Tháo phải rút một chân ra khỏi Kinh Châu, chỉ còn giữ quận Nam Dương và một phần Nam quận ở phía Bắc. Về phía Đông Ngô, tiếng là thắng trận nhưng cũng thiệt hại không nhỏ. Chẳng bao lâu sau, Đại đô đốc Chu Du ốm bệnh mà chết, để lại khoảng trống cực lớn.

Như vậy, Ngụy và Ngô đã dần đánh mất đi lợi thế ở Kinh Châu. Còn Lưu Bị thì nổi lên như một chư hầu mạnh, có đầy đủ yếu tố để hùng cứ một phương: Một quân sư đại tài (Gia Cát Lượng), các võ tướng anh dũng (Quan, Trương, Triệu) và mảnh đất địa lợi số một (Kinh Châu).

Hội đàm thất bại

Theo sách Kể chuyện Tam Quốc của tác giả Lê Đông Phương, tháng 12/211, Lưu Bị mang quân vào Tây Xuyên, Quan Vũ được giao ở lại giữ Kinh Châu. Kinh Châu thời Lưu Biểu nguyên có 7 quận, lúc đó chiến tranh qua lại giữa 3 phe Tào - Tôn - Lưu, mỗi bên còn giữ một phần: Lưu Bị có 4 quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa, Vũ Lăng và một nửa quận Giang Hạ của Lưu Kỳ (con cả Lưu Biểu); Tôn Quyền chiếm được Giang Lăng, nửa quận Giang Hạ và nửa Nam quận; Tào Tháo còn giữ lại quận Nam Dương và nửa Nam quận. Sau khi Lưu Kỳ chết, Lưu Bị tiếp quản phần nửa quận Giang Hạ. Quan Vũ tiếp quản Kinh Châu từ tay Lưu Bị với lãnh thổ 4 quận rưỡi.
Tạo hình Quan Vũ trên phim.

Năm 215, Lưu Bị chiếm được Ích Châu từ tay Lưu Chương nhưng lại từ chối "giao trả" Kinh Châu cho Tôn Quyền. Vì thế Tôn Quyền đã vô cùng giận dữ và ra lệnh cho Lã Mông tấn công chiếm lấy ba quận Kinh Châu trong tay Quan Vũ. Quân Đông Ngô đông đảo, đánh chiếm 3 quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa. Quan Vũ chỉ còn giữ được nửa quận Giang Hạ và quận Vũ Lăng. Lưu Bị ở Ích châu được tin, thấy tình hình Kinh châu nghiêm trọng, vội mang quân ra thành Công An thuộc quận Vũ Lăng, sai Quan Vũ mang quân đi đánh Lã Mông và Lỗ Túc.

Tôn Quyền cũng đích thân từ Ngô quận tiến ra Lục Khẩu phòng thủ và sai Lỗ Túc dẫn quân ra Ích Dương. Quan Vũ và Lỗ Túc gặp nhau tại Ích Dương. Lỗ Túc cân nhắc tính khinh trọng của vấn đề và quyết định duy trì quan hệ liên minh giữa hai nhà mới là sự lựa chọn tốt nhất, vì vậy ông đã mời Quan Vũ cùng hội đàm. Trong suốt buổi hội đàm, binh sĩ hai bên chỉ được đứng cách trướng 100 bước, và những ai đến dự hội đàm chỉ được phép mang một thanh kiếm.

Lỗ Túc hỏi Quan Vũ: Ba quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa là bên tôi cho các ông mượn, sao các ông không trả lại?

Quan Vũ đáp: Trong trận Xích Bích - Ô Lâm, Tả tướng quân (Lưu Bị) thân trong bộ ngũ, cùng các ông nhất tề ra sức, phá được quân địch, sao không được chia mảnh đất nào?

Lỗ Túc nói tiếp: Lần đầu tiên ta gặp Lưu Dự châu (Lưu Bị) của các ông ở Đương Dương Tràng Bản, quân số ông ta không đầy một hiệu, bản thân ông ta hết cách, muốn chạy nạn tới nơi xa. Chúa thượng bọn ta (Tôn Quyền) thương ông ta không nơi nương tựa nên cho ông ta chỗ yên thân (Kinh châu). Không ngờ Lưu Dự châu biết làm việc đạo đức lại vứt bỏ tình nghĩa, bây giờ đã có Ích châu lại muốn có cả Kinh châu. Đó là chuyện người thường cũng không nỡ làm, huống chi Dự châu sao có thể như thế?

Quan Vũ không trả lời được. Hai bên thu quân trở về.

Một đao dự hội
Quan Vũ.

Trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung nói rằng Lưu Bị và Tôn Quyền ngoài mặt là em rể và anh vợ nhưng vẫn tranh chấp nhau vùng Kinh châu mà Lưu Bị mang tiếng "mượn" lâu ngày không trả.

Sau khi đẩy lùi đại binh phương Bắc, Ngô hầu Tôn Quyền không còn lo lắng đến Tào Tháo nữa. Trong lòng ông lúc này, Lưu Bị mới thực là kẻ nguy hiểm nhất. Từ chỗ không một mảnh đất cắm dùi, thua chạy liên miên từ Tân Dã đến Giang Hạ, Lưu Bị trong một đêm có được mấy quận Kinh Tương, sừng sững như hổ ngồi nhìn Trung Nguyên. Kinh Châu lại là hiểm địa sát nách Đông Ngô, Tôn Quyền làm sao không lo cho được.

Vậy nên, ông ba lần bảy lượt giục Lỗ Túc kiếm cớ sang sông đòi đất, thậm chí còn có lúc định phát binh đánh úp Kinh Châu. Lỗ Túc khi ấy làm Đại đô đốc thay Chu Du đã mất, vốn không thích chuyện can qua, chỉ một lòng duy trì hòa hảo liên minh hai nhà Tôn – Lưu.

Với cái nhìn đầy sắc sảo của mình, Lỗ Túc nhận ra rằng chỉ có liên kết với nhau, Tôn Lưu hai nhà mới cự được Tào Tháo ở mặt Bắc. Ngô và Thục chính là như răng với môi, tuy có lúc răng cắn phải môi nhưng quả thực không sống thiếu nhau được. Nếu liên minh tan vỡ, Tào Tháo với sức mạnh vượt trội của kỵ binh phương Bắc kéo xuống đủ sức đạp bằng hai nước như thế gió lốc quét lá vàng vậy.

Khi đối địch với Quan Vũ ở phía bên kia Trường Giang, Lỗ Túc luôn rất mềm mỏng, khéo léo, chủ động hòa đàm. Ở bên này sông, Quan Vũ ngày đêm thao luyện binh mã, Bắc cự Tào Tháo, Đông dè Tôn Ngô, phòng thủ vô cùng cẩn mật. Không còn cách nào khác, phía Đông Ngô bèn dùng kế mời Vân Trường sang sông uống rượu, định khống chế, uy hiếp, đòi trả đất bằng không thì ám sát.

Bên Đông Ngô cho Cam Ninh, Lã Mông phục sẵn 50 đao phủ ở tiệc rượu, phát thư mời Vân Trường sang sông hòa đàm. Được thư, Vân Trường chẳng cần suy nghĩ, lập tức đồng ý, y hẹn sang sông. Bộ tướng đều can không cho Vân Trường đi và cho rằng đây là tiệc Hồng Môn Yến (bữa tiệc nguy hiểm nổi tiếng lịch sử khi Hạng Vũ mời Lưu Bang đến dự). Tuy vậy, Vân Trường vẫn nhất quyết đi, vác đao lên thuyền, chỉ dẫn theo mười hộ vệ, chèo thuyền nhỏ, thuận gió sang sông.
Quan Vũ đi thuyền tới dự tiệc của Lỗ Túc.

Y hẹn, Quan Vũ một mình một đao, lên bờ uống rượu, nói cười vui vẻ, điềm nhiên như không. Lỗ Túc trên bàn tiệc nhắc đến chuyện đòi lại Kinh Châu, Vân Trường gạt đi mà rằng: “Đó là việc công nhà nước, trong tiệc rượu không nên nhắc đến làm chi!”. Khi Lỗ Túc quyết tâm căn vặn đến cùng, cho rằng Lưu Bị nói lời không giữ, Vân Trường nổi giận khảng khái đáp: “Việc ở Ô Lâm, anh tôi xông pha mũi tên hòn đạn, cố sức để cùng phá giặc, có lẽ đâu khó nhọc mà không được thước đất nào? Túc hạ lại còn muốn đòi đất ư?”.

Thái độ dứt khoát ấy của Vân Trường không khỏi khiến các tướng Đông Ngô bất bình, 50 tay đao phủ phục sẵn dưới bàn tiệc, chỉ chực lao lên đoạt mạng ông. Nhưng Vân Trường vẫn điềm nhiên mời Lỗ Túc cạn chén, cuối cùng dắt tay Lỗ Túc, bước đi liêu xiêu, tiến thẳng ra bờ sông. Quân Ngô thấy Lỗ Túc bị Vân Trường tay kẹp Thanh Long đao dẫn đi như thế thì không dám nhúc nhích tiến đến, bất lực nhìn theo.
Vân Trường nắm tay Lỗ Túc cùng bước ra bến sông.

Ra đến bến sông, Quan Vũ để Lỗ Túc ngơ ngác ở lại bến nước, vén áo bào, ném Long đao cho Chu Thương cầm, ung dung bước lên thuyền, thuận buồm về Kinh Châu. Gió thổi vun vút, con thuyền của Quan Vũ lướt đi như một mũi tên, phút chốc đã biến mất giữa làn sóng Trường Giang cuồn cuộn. Quân Ngô đứng sững người như phỗng đá trên bờ, Lỗ Túc cũng lắc đầu nhìn theo, im lặng chẳng nói gì, chỉ nghe tiếng cười sảng khoái, ung dung của Quan Vũ là còn vang mãi, hòa vào tiếng gió Trường Giang vọng đến.

Có bài thơ làm chứng về chuyện Quan Vũ sang Đông Ngô dự hội như sau:

“Một đao phó hội uống thờ ơ

Coi nhỏ Đông Ngô tựa trẻ thơ

Khí khái anh hùng trong cuộc rượu

Hàm Trì gấp mấy Lạn Tương Như”.

Lạn Tương Như, người nước Triệu thời Chiến Quốc, nhận lệnh vua Triệu cầm ngọc bích họ Hòa sang sứ nước Tần. Tần Chiêu Tương vương vốn rất thích viên ngọc này, hứa đổi lại 15 thành trì cho nước Triệu. Nhưng Lạn Tương Như xét tình thế, thấy vua Tần muốn nuốt lời, bèn cầm viên ngọc bích định đập nát trước mặt Tần Chiêu Tương vương.

Vua Tần quý ngọc, không nỡ trái ý, bèn hạ lệnh lấy bản đồ khoanh 15 thành đổi cho nước Triệu. Lạn Tương Như lại biết đó chỉ là kế lừa, quyết không giao ngọc, yêu cầu vua Tần phải trai giới sạch sẽ 5 ngày rồi mới dâng. Trong thời gian ấy, ông ngầm sai người mang ngọc về Triệu quốc, còn mình thì thân hành đến cung vua nhận tội. Vua Tần giận lắm nhưng cũng không dám giết Lạn Tương Như vì sợ ảnh hưởng đến tình đồng minh Tần – Triệu, sau thả ông về.

Lạn Tương Như một mình một ngựa, vào đất Tần, giỡn mặt vua Tần mấy lần, sau cùng vẫn thu được ngọc bích về cho nước Triệu, đường hoàng ra khỏi Hàm Cốc quan, chính là tấm gương nghìn năm về lòng trung dũng, gan dạ. Lại liên tưởng đến chuyện “đơn đao phó hội” mới thấy cái dũng khí ngút trời của Quan Vũ còn có phần hào sảng hơn biết bao nhiêu vậy.

Theo Người Đưa Tin
Bài viết đóng góp, xin gửi về email: doanhnhandoisong@gmail.com

* Trang Thông tin Điện tử Tổng hợp
Giấy phép ICP số 35/GP-STTTT do Sở TTTT cấp ngày 15/8/2017
Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà báo Trần Hiền Long
Ghi rõ nguồn: doanhnhandoisong.vn khi lấy thông tin từ trang này

* Bản quyền thuộc HL Media
Văn phòng: 232/1/10 Bình Lợi, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
Điện thoại: (028) 38055303 - Hotline: 0934048895
Email: doanhnhandoisong@gmail.com